Wednesday, November 25, 2020

Làm sao để khách hàng giới thiệu khách hàng?

Khách hàng giới thiệu khách hàng (referral) là một phương pháp cực kỳ hiệu quả trong bán hàng – bởi giúp kết nối người bán và khách hàng tiềm năng. Theo một kết quả khảo sát của Nielsen, khi được bạn bè giới thiệu – khả năng giao dịch của khách hàng cao hơn bốn lần. Ngoài ra, 92% khách hàng cho rằng họ tin tưởng lời giới thiệu của những người quen biết.

Ông Trịnh Minh Thảo
Văn phòng PMO, Eximbank
42 bài viết

Thông qua referral, khách hàng tiềm năng sẽ tự tin hơn với người bán hàng – và vì thế, giúp cho quá trình ra quyết định dễ dàng và nhanh chóng hơn. Trong thực tế, referral là một trong những cách thức phát triển khách hàng hiệu quả và ít tốn kém nhất.

Nếu không được giới thiệu trước thì người bán hàng là một người xa lạ nên dễ hiểu là khách hàng tiềm năng chưa có bất cứ lý do gì để đặt niềm tin ở bạn. Khi đó, muốn chốt giao dịch thành công – đương nhiên bạn phải vất vả hơn rất nhiều.

Nếu sau khi được phục vụ mà khách hàng vẫn chưa giới thiệu khách hàng tiềm năng cho bạn, hãy đánh giá lại, có thể nguyên do là một hay nhiều trong số dưới đây.

Chưa chủ động đề nghị: một số liệu của Dale Carnegie cho hay, khoảng 90% khách hàng hài lòng sẵn sàng giới thiệu những người khác, nhưng vấn đề là chỉ có khoảng 10% những người bán hàng chủ động đề nghị điều đó. Nếu không cho biết rằng bạn có mong muốn phục vụ - thì khách hàng có ít lý do để mang những khách hàng khác đến cho bạn.

Trải nghiệm tiêu cực: có thể trước đó khách hàng từng giới thiệu người thân cho bạn nhưng không được phục vụ chu đáo hoặc nhận được phản hồi thiếu tích cực – chắc chắn, khách hàng sẽ không muốn thử một lần nào nữa.

Dịch vụ ở mức tạm được: Bạn chưa tạo sự khác biệt để gây ấn tượng cũng như chưa quá xuất sắc để khách hàng ‘phải lòng’. Nếu chỉ bình thường như nhiều người bán hàng khác hẳn khách hàng khó có đủ tự tin nhắc đến tên bạn…

Không có động lực: Sau khi giao dịch, khách hàng đạt được những gì họ muốn nên sẽ chẳng mấy để ý đến sản phẩm dịch vụ của bạn nữa. Có thể họ tỏ ra lịch sự khi trao đổi với bạn, nhưng sau đó thì thấy chẳng có lý do gì để giới thiệu ai khác.

Muốn khai thác referral hiệu quả - bạn cần một kế hoạch và nhiều nỗ lực, trong đó quan trọng là sản phẩm hiệu quả và dịch vụ khách hàng xuất sắc là điều kiện cần. Kinh nghiệm thấy rằng yếu tố trọng yếu trong referral là mức độ thân thiết trong mối quan hệ giữa bạn và khách hàng. Nếu bạn đã chân thành xây dựng được mối quan hệ bền vững và đáng tin cậy – khách hàng sẽ còn hơn cả nhiệt tình trong việc ‘mai mối’ giúp bạn.

Dưới đây là một số kinh nghiệm thực tế.

Vượt qua e ngại: cách duy nhất để vượt qua cảm giác lo lắng và ngần ngại là cứ mạnh dạn đề nghị khách hàng. Hãy biết rằng, bạn sẽ chẳng đến nỗi khiến khách hàng mếch lòng khi đề nghị referral – nhưng nếu không, có thể mình đã bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội gặp khách hàng tiềm năng.

Đề nghị một cách cụ thể: Nếu nói một cách chung chung kiểu như "Anh biết ai có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng thì giới thiệu em nhé!" thì đương nhiên khách hàng sẽ nhận lời nhưng để họ giới thiệu ai đó thì khó đấy. Bạn nên cụ thể hơn về sản phẩm muốn bán, ví dụ: "Tháng này em làm rất tốt, chỉ còn thiếu một thẻ nữa là hoàn thành chỉ tiêu. Từ nay đến cuối tháng chị Hương giới thiệu giúp em một đồng nghiệp mở thẻ nhé. Em cam kết sẽ phục vụ tận tình như cách em đã phục vụ chị Hương lâu nay!"

Đúng thời điểm: đừng vội đề nghị referral ngay lần gặp đầu tiên. Trước hết đáp ứng hoàn hảo nhu cầu của khách hàng. Nếu là thẻ tín dụng, hãy tư vấn khách hàng thật kỹ, giúp hoàn tất thủ tục nhanh chóng. Quan tâm, phục vụ chu đáo cho đến khi khách hàng nhận được thẻ, kích hoạt và quẹt vài lần cho đến khi thanh toán dư nợ thẻ tháng đầu tiên. Khi mọi việc diễn ra tốt đẹp, khách hàng hoàn toàn hài lòng và uy tín cá nhân được khẳng định – đó là thời điểm bạn nên khéo léo đề nghị referral.

Rất tiếc, trong thực tế nhiều bạn quá sốt sắng ‘khai thác khách hàng’ đến nỗi mới gặp nhau lần đầu đã hỏi mượn điện thoại khách hàng để sao chép danh bạ!

Tạo điều kiện cho khách hàng giới thiệu: ví dụ, đừng bao giờ đưa cho khách hàng một danh thiếp – vì đó là ý bạn muốn khách hàng giữ số điện thoại để liên hệ. Hãy đưa nhiều hơn và bao giờ cũng đi kèm với lời đề nghị khéo léo: "Dạ cháu còn chục cái danh thiếp, từ đây đến cuối tuần cô gửi cho người quen trong khu phố giúp cháu nhé!"

Quà tặng: thỉnh thoảng cũng nên có những bất ngờ dễ thương dành cho khách hàng để giúp họ nhiệt tình và thường xuyên nhớ đến bạn.

Có mục tiêu cụ thể: tránh làm theo kiểu được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Hãy lập mục tiêu chi tiết, ví dụ 1:2 – tức là khai thác được hai khách hàng mới từ một khách hàng hiện hữu. Sau đó, bắt đầu một kế hoạch để thực hiện cho được mục tiêu đề ra.

Khai thác chính nguồn khách hàng tiềm năng: ý nói đến nhóm khách hàng chưa giao dịch. Là những người bạn đã từng tiếp thị nhưng vì nhiều lý do nên chưa chốt được. Khách hàng chưa giao dịch nhưng vì ấn tượng với sự chuyên nghiệp và nhiệt tình của bạn nên mỗi khi người thân có nhu cầu họ lại giới thiệu đến bạn.

Cập nhật tiến độ thường xuyên: một lưu ý quan trọng là khi được giới thiệu khách hàng tiềm năng, bạn phải chủ động thường xuyên cập nhật tiến độ phục vụ (gặp mặt/tư vấn sản phẩm/đang làm thủ tục/hoàn tất giao dịch…). Đặc biệt, khi phục vụ xong phải thông báo và chân thành cám ơn người giới thiệu – đó là cách nên làm để khuyến khích khách hàng giới thiệu thêm nhiều người khác nữa.

Giới thiệu lại khách hàng: còn gì ý nghĩa hơn là tích cực hỗ trợ khách hàng của mình bằng cách giới thiệu nhiều người khác đến sử dụng sản phẩm dịch vụ. Đó là cách nhanh nhất và hiệu quả nhất để xây dựng quan hệ khách hàng.

Trong thực tế, hàng ngàn banker đang phục vụ khách hàng – trong đó tỉ lệ không nhỏ là doanh chủ, nhà cung cấp – nhưng ít thấy khi nào các bạn quảng bá sản phẩm dịch vụ giúp khách hàng của mình, kể cả bằng những cách hoàn toàn miễn phí như qua facebook hay zalo.

Khai thác hết tất cả các mối quan hệ: thông thường mỗi một khách hàng có nhiều mối quan hệ, mức độ thân thiết khác nhau tùy đối tượng – tựu trung lại bao gồm 1) quan hệ gia đình (anh chị em ruột, người thân…), 2) quan hệ láng giềng (khu phố, chung cư…), 3) quan hệ đồng nghiệp (cùng tổ chức, bạn hàng, đối tác làm ăn…) và 4) quan hệ xã hội (bạn chơi tennis, thành viên câu lạc bộ …).

Khi có kế hoạch referral, bạn cần quan tâm khai thác hết tất cả những mối quan hệ này. Bất cứ cá nhân nào cũng có những mối quan hệ vừa phong phú vừa đặc biệt – nên một khi ‘thâm nhập’ vào thế giới riêng của mỗi khách hàng, rất có thể bạn sẽ gặp nhiều cơ hội hấp dẫn, bất ngờ không thể đoán trước.

Do vậy, từ bây giờ mỗi khi đến gặp khách hàng - bạn phải xác định đây là cơ hội để bán cho cả công ty, tổ dân phố, thành viên gia đình... Khách hàng tiếp theo sau đó sẽ là đồng nghiệp, người thân gia đình, hàng xóm khu phố, bạn bè đại học, câu lạc bộ tennis, bác sĩ và cả thợ hớt tóc của khách hàng nữa!

Ngoài ra, bên cạnh nguồn referral từ những khách hàng đã từng sử dụng sản phẩm dịch vụ như nói trên – bạn còn có thể khai thác cực kỳ hiệu quả referral từ những người có ảnh hưởng (influencer) – nhóm này rất đa dạng, từ công chức cơ quan quản lý nhà nước đến công an phường, cảnh sát khu vực, cha xứ, sư trụ trì vv… Những người uy tín, có mối quan hệ rộng và có tầm ảnh hưởng đó thường là nguồn tiềm năng cao mà banker nên có kế hoạch tích cực khai thác.

Chuyên gia Trịnh Minh Thảo

Theo Nhịp sống kinh tế


 https://cafef.vn/lam-sao-de-khach-hang-gioi-thieu-khach-hang-20201125094313316.chn

Sunday, November 8, 2020

Cử tri đoàn

GIẢI THÍCH VỀ CỬ TRI ĐOÀN TRONG BẦU CỬ TỔNG THỐNG HOA KỲ - TỔNG HỢP Trước khi nói về Cử Tri Đoàn và cách thức cùng thể lệ bầu cử, chúng ta cần nhớ rằng nước Mỹ không phải là một quốc gia có 50 tỉnh mà nước Mỹ là một hiệp chủng quốc gồm 50 tiểu bang tự trị. Khi các tiểu bang gia nhập vào Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, họ chỉ phải đồng ý là sẽ tuân thủ theo một số điều luật của liên bang mà bang nào cũng phải theo. Ngoài các điều luật đó ra, các tiểu bang hoàn toàn tự trị và tự vận hành. Nói một cách nôm na, nước Mỹ như là tập thể của 50 vườn hoa. Tuy nằm trong công viên lớn có tên là Hoa Kỳ, nhưng các chủ vườn có thể trồng các loại cây và hoa mà mình muốn với điều kiện là cây của vườn này không được lấn sang đất của vườn khác. Chính phủ liên bang không giới hạn số lượng và chiều cao của cây. Nói một cách khác, sự phát triển kinh tế của bang này không được gây hại đến sự phát triển kinh tế của các bang khác. Tại các tiểu bang của Hoa Kỳ, hiến pháp và luật lệ của mỗi tiểu bang có giá trị và hiệu lực cao hơn hiến pháp và luật lệ của chính phủ liên bang. Các cuộc bầu cử ở cấp tiểu bang đều theo thể thức phổ thông bầu phiếu, nghĩa là ai được nhiều phiếu thì người đó thắng. Chỉ có chiếc ghế tổng thống Hoa Kỳ mới được bầu theo thể thức Cử Tri Đoàn (Electoral College). VÌ SAO CẦN CÓ CỬ TRI ĐOÀN? Vì sao chiếc ghế Tổng Thống không được quyết định bằng thể thức phổ thông bầu phiếu, nghĩa là đa số thắng thiểu số? Câu trả lời rất đơn giản là, ngay từ đầu, các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã hoàn toàn không có ý định tạo ra một nền dân chủ dựa trên nền tảng thuần tuý của nguyên tắc đa số thắng thiểu số. Sau khi nghiên cứu lịch sử thế giới một cách cẩn thận và tỉ mỉ, họ đã học được điều mà, ngày nay, hầu hết mọi người đã quên hoặc chưa bao giờ được học. Đó là, một nền dân chủ chỉ thuần túy dựa trên nguyên tắc đa số thắng thiểu số, lấy thịt đè người là một nền dân chủ bất công và không bao giờ là nền dân chủ thực sự. Trong một nền dân chủ thuần túy dựa trên sức mạnh của đại đa số thì các nhóm thuộc đại đa số sẽ có thể dễ dàng áp đặt sự chuyên chế của mình lên phần còn lại của đất nước. Nó sẽ tạo ra một xã hội trong đó các nhóm đa số sẽ lấn lướt, áp đặt, và hiếp đáp các nhóm thiểu số; các bang lớn, đông dân sẽ lấn áp và chà đạp quyền lợi của các bang nhỏ. Nền dân chủ dựa trên sức mạnh của đại đa số được ví như khi hai con sói và một con cừu ngồi lại với nhau để đưa ra quyết định “dân chủ” về món ăn cho bữa tối. Dĩ nhiên con cừu sẽ luôn là món ăn cho bữa tối và cả bữa trưa ngày hôm sau. Con cừu, với thân phận thế cô, sức yếu sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được trong một xã hội mà đại đa số là sói. Tượng tự, trong một xã hội mà đại đa số là phụ nữ, thì khi “bầu phiếu dân chủ”, đàn ông luôn luôn sẽ là người rửa chén sau bữa ăn. Trong một xã hội mà bần cố nông nhiều hơn thành phần trí thức, tiểu tư sản, thì khi “bầu phiếu dân chủ”, bần cố nông sẽ luôn cai trị những người trí thức. Dân chủ theo kiểu đa số thắng thiểu số này sẽ rất nguy hiểm cho đất nước, là phản dân chủ, và là án tù chung thân cho số ít. Đây là nền “dân chủ” mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ muốn tránh bằng mọi giá. Thấy được sự nguy hiểm của nguyên tắc “lấy thịt đè người”, dùng sức mạnh của số đông để đàn áp, thống trị số ít này, các nhà lập quốc của Hoa Kỳ đã phải ngồi lại với nhau ròng rã nhiều tháng để tìm ra một phương pháp nhằm giảm thiểu sức mạnh toàn trị của số đông trên mảnh đất Hoa Kỳ. Và cuối cùng, họ đã nghĩ ra một hệ thống bầu cử Tổng Thống có tên là Electoral College, tức Cử Tri Đoàn. Cử Tri Đoàn được sáng lập để ngăn ngừa và giảm thiểu sự lấn áp của số đông đối với số ít, để đảm bảo quyền lợi cho các bang có số dân nhỏ, để đảm bảo tiếng nói và nguyện vọng của họ cũng được xem trọng như các tiểu bang lớn. Đó là lý do vì sao các tiểu bang dù nhỏ hay lớn đều chỉ được có hai đại diện trong Thượng Viện. Điều này đảm bảo rằng trong các cuộc bầu phiếu tại Thượng Viện tất cả các bang đều có sức mạnh như nhau vì mỗi bang đều có hai phiếu bầu. Để bù lại việc các bang lớn bị “xử ép” khi chỉ có hai đại diện tại Thượng Viện, số ghế đại diện của mỗi bang tại Hạ Viện được dựa trên dân số của mỗi bang. Như vậy, các tiểu bang lớn sẽ được nhiều ghế đại diện trong Hạ Viện hơn các tiểu bang nhỏ. Tuy có vẻ “bất công” đối với các tiểu bang nhỏ, nhưng thực sự thì lại rất công bằng bởi vì con ngựa to lớn hơn và làm việc có hiệu quả cao hơn nên dĩ nhiên phần ăn sẽ được nhiều hơn con lừa. Công bằng tuyệt đối không bao giờ tồn tại. Theo thể thức bầu cử của Cử Tri Đoàn ngày nay, một ứng cử viên cần ít nhất 270 phiếu bầu để giành chiến thắng. Vì sao điều này lại quan trọng như vậy? Bởi vì thể thức Cử Tri Đoàn khuyến khích xây dựng liên minh và vận động bầu cử trên bình diện toàn quốc để giành được sự ủng hộ của nhiều loại cử tri khác nhau, từ nhiều vùng khác nhau của nước Mỹ. Nếu một cử tri chỉ có được sự ủng hộ của miền Nam hoặc miền Tây thì không đủ để đắc cử. Họ không thể giành được con số tối thiểu 270 phiếu đại cử tri nếu chỉ có một phần của đất nước ủng hộ họ. Do đó, đối với một ứng cử viên, mọi tiểu bang và mọi cử tri đều trở nên quan trọng như nhau. Ngược lại, nếu chiến thắng nghĩa là chỉ cần làm sao để có đủ số phiếu phổ thông, thì một ứng cử viên chỉ cần tập trung toàn bộ nỗ lực của mình để vận động tại các thành phố lớn nhất hoặc các bang lớn nhất mà không cần phải quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, và khó khăn của các tiểu bang nhỏ. Thể thức Cử Tri Đoàn còn có tác dụng ngăn ngừa sự gian lận và hối lộ. Thí dụ như nếu Châu Á cần bầu ra một tổng thống. Châu Á có 4,6 tỉ dân, Trung Quốc có 1,5 tỉ dân và Ấn Độ có 1,4 tỉ dân. Nếu theo thể thức Cử Tri Đoàn thì thắng được Trung Quốc và Ấn Độ vẫn chưa đủ điểm để đắc cử. Vì vậy, các ứng cử viên phải coi trọng và quan tâm đến các nước khác. Nếu theo thể thức bầu phiếu phổ thông, thì các ứng cử viên chỉ cần tập trung vận động để dân Trung Quốc và Ấn Độ bầu cho mình vì hai nước này hợp lại đã có 3 tỉ dân. Trung Quốc và Ấn Độ có thể liên minh mua chuộc một ứng cử viên nào đó và vị ứng cử viên đó chỉ cần đáp ứng nhu cầu của Trung Quốc và Ấn Độ sau khi đắc cử. Vì phiếu bầu của Việt, Miên, Lào không quan trọng và không cần thiết nên quyền lợi của các nước này cũng sẽ không được đảm bảo. Như vậy, Trung Quốc và Ấn Độ có thể thao túng toàn bộ Châu Á. Trung Quốc hoàn toàn có thể sử dụng sông Mekong và sông Hồng theo ý của mình. Họ có thể đào kênh thuỷ lợi dẫn hết nước vào ruộng của họ, tuỳ tiện xây đập thuỷ điện và kết quả là gây hại cho các nước thấp cổ, bé miệng ở hạ nguồn như Việt, Miên, Lào. Đây chính là hệ thống dân chủ dựa trên nguyên tắc đa số thắng thiểu số, lấy thịt đè người, bang lớn chèn ép bang nhỏ mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ muốn ngăn ngừa bằng mọi giá. Cử Tri Đoàn còn có rất nhiều cái lợi khác, một trong số đó là đếm phiếu. Theo thể thức bầu phiếu phổ thông, nếu hai ứng cử viên có số phiếu xấp xỉ bằng nhau thì việc đếm lại phiếu bằng tay (recount) trên phạm vi toàn quốc sẽ được dùng để quyết định người thắng cuộc vì computer có thể bị trục trặc. Việc đếm phiếu bằng tay trên phạm vị toàn quốc sẽ gây tốn kém rất nhiều thời gian, công sức, và tiền bạc. Đó là chưa kể đến việc sau khi đếm phiếu mà vẫn xấp xỉ thì lại phải đếm lại. Thể thức Cử Tri Đoàn sẽ giải quyết vấn đề này nhanh gọn và đỡ tốn kém hơn nhiều. Tôi xin được lấy tiểu bang Minnesota làm ví dụ. Minnesota được 10 Electoral Votes (gọi là 10 phiếu đại cử tri). Ai thắng được số phiếu phổ thông tại Minnesota thì sẽ được cộng 10 phiếu đại cử tri vào tổng số phiếu đại cử tri của mình. Nếu như số phiếu phổ thông của hai cử viên tại bang này xấp xỉ bằng nhau thì chỉ cần đếm lại phiếu tại Minnesota để quyết định thắng thua chứ không cần phải đếm lại phiếu trên toàn nước Mỹ. Và đây cũng là một trong những lý do mà các chuyên gia thời nay gọi các nhà lập quốc là “thiên tài” khi họ đã sáng lập ra Cử Tri Đoàn. THỂ THỨC CỦA CỬ TRI ĐOÀN Quốc hội Hoa Kỳ được chia làm hai viện: thượng viện (Senate) gồm có 100 Thượng Nghị Sĩ (TNS) và Hạ Viện (House of Representatives) gồm có 435 Hạ Nghị Sĩ (HNS). Lúc đầu, Hạ Viện chỉ có 59 ghế. Số ghế này được tăng theo sự phát triển dân số. Đến khi số ghế lên đến 435 thì Hạ Viện quyết định không tăng nữa. Mỗi tiểu bang có 2 TNS và con số này không đổi. Số HNS của mỗi bang được phân bố dựa trên dân số. Tiểu bang California có 53 ghế HNS vì dân số đông, trong khi bang Alaska chỉ có 1 ghế HNS vì dân số ít. 435 ghế trong Hạ viện được chia cho các bang theo chỉ số ưu tiên dựa trên một công thức toán học thuần tuý chứ không dựa trên một ưu tiên chính trị nào cả. Đầu tiên, tất cả 50 tiểu bang đều được phân bố một ghế. 435 - 50 = 385. Chiếc ghế số 51 sẽ trở thành chiếc ghế thứ hai cho California vì lúc này chỉ số ưu tiên của bang này cao nhất nhờ vào số dân đông nhất. Sau đó, chỉ số ưu tiên của bang này được giảm xuống theo công thức toán học vừa nêu ở trên. Nếu chỉ số ưu tiên vẫn còn cao nhất thì chiếc ghế thứ 52 sẽ trở thành chiếc ghế thứ ba cho California. Cứ như vậy cho đến khi chỉ số ưu tiên của California thấp hơn Texas (Texas có số dân cao thứ nhì) thì Texas sẽ nhận được chiếc thứ hai của mình. Tiếp tục như vậy cho đến khi không còn ghế nào để phân bố. Dân số của các tiểu bang được thống kê 10 năm một lần. Vì số ghế giới hạn ở mức tối đa là 435, nên bang nào giảm dân số thì phải mất ghế và bang nào tăng dân số sẽ được tăng ghế. Mỗi tiểu bang sẽ nhận được số phiếu đại cử tri bằng với tổng số ghế của mình trong cả hai viện. Ví dụ: California có 53 ghế trong Hạ Viện cộng với 2 ghế trong Thượng Viện nên sẽ có 55 phiếu đại cử tri. Cộng số ghế trong Thượng Viện (100) và Hạ Viện (435) thì sẽ được 535 ghế. Do đó, 50 tiểu bang sẽ có tổng cộng 535 phiếu đại cử tri. Trường hợp cá biệt duy nhất là Washington D.C. Vì không phải là một tiểu bang của Hoa Kỳ nên Washington D.C. không có TNS và HNS mà chỉ có một đại diện trong quốc hội. Tuy vậy, địa hạt này vẫn được phân bố 3 phiếu đại cử tri. Như vậy, toàn nước Mỹ hiện nay có 538 phiếu đại cử tri (100 + 435 + 3 = 538). Một cử tri nếu muốn đắc cử Tổng Thống phải đạt được tối thiểu là 270 phiếu đại cử tri. Trong trường hợp không ai đạt được số 270 phiếu, hoặc các ứng cử viên có số phiếu bằng nhau thì Hạ Viện sẽ bầu Tổng Thống và Thượng Viện sẽ bầu Phó Tổng Thống. VAI TRÒ CỦA ĐẠI CỬ TRI Bầu cử Tổng Thống Mỹ được tiến hành qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu được tiến hành theo thể thức phổ thông bầu phiếu. Giai đoạn hai được bầu bởi các Đại Cử Tri. Lấy Minnesota làm ví dụ. Minnesota có 10 phiếu đại cử tri. Cử tri của đảng nào thắng ở Minnesota bằng phiếu phổ thông thì đảng đó sẽ cử 10 đại diện của đảng mình vào đoàn Đại Cử Tri. Đoàn này, trước khi đến Washington D.C. để bầu Tổng Thống, sẽ phải hứa là sẽ trung thành với cử tri của đảng mình. Điều đặc biệt là họ không bắt buộc phải làm theo những gì đã hứa. Luật pháp cũng không bắt buộc họ phải trung thành. Họ chỉ phản bội lời hứa khi có lý do chính đáng. Thường thì họ phản bội lời hứa vì lương tâm của họ cho rằng ứng cử viên của đảng mình không xứng đáng làm Tổng Thống. Lý do thứ hai, vì họ là người sinh hoạt trong đảng nên họ có thể nhìn thấy những sai trái trong nội bộ mà những người đi bầu bình thường không thấy được. Trong trường hợp này, họ có thể bầu cho bất kỳ ai mà họ muốn hoặc bỏ phiếu trắng. Những người này được gọi là Faithless Electors (Đại Cử Tri Vô Tín). Trong lịch sử bầu cử Hoa Kỳ, những người Vô Tín này không nhiều và sự vô tín của họ chưa bao giờ làm đảo ngược kết quả bầu cử. Trong các cuộc bầu cử năm 1948, 1956, 1960, 1968, 1972, 1976, và 1988 mỗi cuộc đều chỉ có một người Vô Tín. Năm 2000, có một người bỏ phiếu trắng. Nhưng cuộc bầu cử mới nhất vào năm 2016 có đến 5 người phản Hillary Clinton và 2 người phản Donald Trump. Như vậy, Hillary Clinton là người đang giữ kỷ lục bị phản nhiều nhất trong một cuộc bầu cử. HIỆU QUẢ CỦA CỬ TRI ĐOÀN Mục đích chính của thể thức Cử Tri Đoàn là để ngăn chặn sự nguy hiểm của sự thống trị của số đông, lấy thịt đè người, lấy mạnh hiếp yếu. Kể từ khi được chính thức đưa vào sử dụng trong các cuộc bầu cử vào năm 1788, thể thức Cử Tri Đoàn với cách phân bố số phiếu đại cử tri bằng với số đại diện trong Quốc Hội đã luôn chứng tỏ sự hữu hiệu của nó trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các tiểu bang. Một ví dụ điển hình là việc tranh chấp quyền lợi nguồn nước từ sông Colorado giữa California và sáu tiểu bang khác (Wyoming, New Mexico, Colorado, Utah, Nevada, Arizona). Miền Nam California vốn dĩ rất khô hạn vì thiếu nước trầm trọng và hầu như không bao giờ có mưa. Từ xưa đến nay, nguồn nước chính của Nam California là từ sông Colorado. Để bảo đảm lượng nước đủ dùng từ sông này, California đã nhiều lần sử dụng lợi thế 53 ghế tại Hạ Viện so với 28 ghế của sáu bang kia để đưa ra những dự luật có lợi cho mình qua việc hạn chế việc sử dụng nước của các bang ở thượng nguồn. Tuy 53 ghế là lợi thế rất lớn, nhưng nó cũng chỉ chiếm 12% của các ghế tại Hạ Viện. Các bang không liên quan sẽ không muốn đứng về phía ai mà chỉ bầu cho những gì họ cho là hợp lý và có lợi cho nước Mỹ. Kết quả là hầu hết các dự luật đó đều thất bại. Nếu có dự luật nào được thông qua tại Hạ Viện thì khi đưa lên Thượng Viện cũng sẽ không được thông qua. Ở Thượng Viện mỗi bang chỉ có hai ghế đại diện nên sáu bang kia (12 đại diện) sẽ lật ngược thế cờ. Đến năm 1950s, California mới bắt đầu dẫn nước từ miền Bắc xuống miền Nam, nhưng để phát triển kinh tế, nông nghiệp, và để đáp ứng cho sự tăng dân số tại miền Nam, California không thể chỉ dựa vào nguồn nước SWP từ phía Bắc mà cần luôn cả nguồn nước từ sông Colorado. Biết không thể đảm bảo nguồn nước bằng việc lấy thịt đè người, California phải xuống nước và hứa cho sáu bang kia nhiều ưu đãi về kinh tế như bán cam rẻ hơn, bán các sản phẩm nông nghiệp khác với giá rẻ hơn. Như vậy, tuy có mâu thuẫn quyền lợi, nhưng các bang có liên quan vẫn phải đối xử ôn hoà và tôn trọng lẫn nhau. Kể từ năm 1788, có 5 ứng cử viên thắng cuộc bầu phiếu phổ thông nhưng lại không thắng được chức Tổng Thống mà 4 người trong số đó là của đảng Dân Chủ. Mỗi lần thất bại, đảng Dân Chủ đều đổ thừa cho thể thức Cử Tri Đoàn và bảo rằng “Electoral doesn’t work” vì nó không phản ánh ý kiến của số đông. Họ còn cho rằng Electoral College được lập ra để làm lợi cho đảng Cộng Hoà. Thật ra, họ đã sai khi nói như vậy. Cử Tri Đoàn được đưa vào sử dụng (năm 1788) trước khi có đảng Dân Chủ (năm 1828) và đảng Cộng Hoà (năm 1854), cho nên không thể nói là nó được lập ra để thiên vị và bênh vực bất kỳ đảng nào. Cử Tri Đoàn được lập ra để phá vỡ sự độc quyền thống trị lâu dài của số đông, cho số ít có khả năng cạnh tranh và cơ hội để thắng số đông và nó đã làm được những gì mà các nhà lập quốc muốn nó làm. Phiếu phổ thông đại diện cho sức mạnh của số đông và năm lần thất bại của số đông đã chứng minh điều đó. Như nhiều chuyên gia chính trị đã nói: “Electoral College works perfectly. It works as designed. That’s how it’s supposed to work.” Để thấy thêm hiệu quả tuyệt vời của thể thức Cử Tri Đoàn trong việc phá vỡ sự độc quyền thống trị của số đông hay của một đảng nào đó, chúng ta không cần phải nhìn đâu xa mà hãy nhìn lại những cuộc bầu cử gần đây nhất. Năm 2000, Al Gore của đảng Dân Chủ thắng phiếu phổ thông nhưng Goerge Bush lại làm tổng thống vì thắng phiếu đại cử tri. Năm 2016, Hillary Clinton của đảng Dân Chủ cũng thắng phiếu phổ thông nhưng Donald Trump lại làm tổng thống vì thắng phiếu đại cử tri. Nếu không có thể thức Cử Tri Đoàn thì Al Gore và Hillary Clinton của đảng Dân Chủ đã làm tổng thống. Như vậy có nghĩa là suốt 28 năm (từ 1993 đến 2021), nước Mỹ liên tục bị độc quyền thống trị bởi 5 Tổng Thống thuộc đảng Dân Chủ. Với sự độc quyền cai trị trong suốt 28 năm đó, đảng Dân Chủ hoàn toàn có đủ sức và đủ thời gian để đưa nước Mỹ theo bất kỳ mô hình xã hội nào họ muốn. Thể thức Cư Tri Đoàn đã phá vỡ sự độc quyền thống trị dài hạn và nguy hiểm này. Ngược lại, 28 năm của 5 đời Tổng Thống Cộng Hoà cũng không phải là một điều tốt cho đảng Dân Chủ. Như vậy ai có thể nói Electoral College doesn’t work? Ngoài ra, thể thức Cử Tri Đoàn còn làm cho các cuộc bầu cử trở nên vô cùng khó đoán. Trong khi thể thức phổ thông bầu phiếu là một lá bài chỉ có hai mặt sấp ngửa dễ đoán thì thể thức Cử Tri Đoàn như một bộ bài có 50 lá mà lá nào cũng có hai mặt, lá nào cũng quan trọng như nhau và không ai dám chắc lá nào sẽ thuộc về ai. Tính khó đoán này giúp ngăn ngừa âm mưu thao túng cuộc bầu cử, tạo ra rất nhiều tình huống bất ngờ, làm tăng thêm sự náo nức, háo hức, và hồi hộp chờ đợi. Nó biến ngày bầu cử thành ngày hội thật sự của nước Mỹ...

Tuesday, September 22, 2020

Truyền Thuyết, Phân Tâm Học, và Bản Sắc Việt

 

Truyền Thuyết, Phân Tâm Học, và Bản Sắc Việt

Lời nói đầu: Như đã hứa từ entry trước, dưới đây là bài viết về bản sắc tâm lý Việt phóng chiếu từ văn hóa dân gian. Tuy nhiên tất cả những gì viết dưới đây đều là bốc phét, híhí.

I. Thánh Gióng (đời Hùng Vương Thứ 6)

Thánh Gióng là một trong tứ bất tử, tượng trưng cho tinh thần chống ngọai xâm của người Việt. Từ trẻ con đến người già, từ thế hệ này đến thế hệ kia, không ai là không thích hình ảnh Thánh Gióng nhổ tre đằng ngà đánh thắng giặc Ân. Thế nhưng nếu sử dụng phân tâm học để giải nghĩa câu chuyện có tính anh hùng ca bất khuất này chúng ta rất có thể đi đến những kết luận khá bi quan.

Đầu tiên là việc mẹ Gióng ra ruộng cà dẫm phải dấu chân đàn ông rồi về mang bầu và sinh ra Gióng. Hình ảnh ruộng cà và dấu chân đàn ông là phóng chiếu (projection) hiếm hoi còn sót lại của hình thức sinh họat quần hôn ngày xưa. Việc Gióng không có cha và chỉ sống dựa vào vòng tay của mẹ là hình ảnh không thể chối bỏ của xã hội mẫu hệ. Cho tới lúc đánh thắng giặc Ân và bay về giời, Gióng hoàn toàn là một chú bé, sống trong vòng tay của mẹ.

Quan hệ Gióng và Mẹ Gióng đã lặng lẽ đi vào tâm thức của người Việt không biết bao nhiêu ngàn năm. Có thể nó chính là căn nguyên của một thứ tạm gọi là mặc cảm Em Chã (dịch ra tiếng Anh là Mother Boy Complex hahahaha). Tây nó có mặc cảm Ơ Đíp (Eudipus Complex) thì mình cũng phải có cái mặc cảm em chã cho nó bằng Tây chứ. Chả lẽ mấy ngàn năm mà chả có cái mặc cảm nào cho bằng chị bằng em thì chết.

Những gì mà Gióng làm được sau khi được mẹ nuôi nấng ngần ấy năm, tốn cơm của cả làng, là nhổ tre đằng ngà oánh tan giặc Ân, rồi bay đi mất. Tại sao không phải là Thánh Gióng lớn lên đi xâm lược Trung Quốc, mang của cải và nô lệ về phục vụ dân làng, làm giàu cho xã hội, mà chỉ là đánh giặc Ân xong rồi té?!. Có phải là mặc cảm em chã nó chỉ cho phép chúng ta giới hạn ước mơ chỉ ở chỗ ai động đến mẹ tao thì tao đánh, chứ con việc kiếm ăn làm giàu là việc của mẹ tao rồi, tao chỉ đi học cho giỏi, ai động đến mẹ tao là tao chửi vỡ mặt, thế là hoàn thành trách nhiệm đàn ông hay không?! Chưa hết, toàn bộ anh hùng ca Thánh Gióng chỉ diễn ra trong một không gian rất hẹp, địa điểm xa nhất là nhổ bụi tre đầu làng để tỉn giặc, còn xa hơn tí nữa là phi ngựa ra cái núi gần đấy rồi bay mất. Đây chính là phóng chiếu đáng sợ nhất về tâm lý sợ phiêu lưu, chỉ quanh quẩn sau lũy tre làng, của dân tộc chúng ta.

Ngay cả hình ảnh đánh Giặc Ân ở đây cũng thể hiện tâm lý “phòng ngự phản công” kéo dài đến tận ngày nay. Trong lịch sử nước ta chưa có danh tướng nào ở vị thế cầm quân đi xâm lược nước khác mà hầu hết là danh tướng đánh đuổi ngọai xâm. Nhiều khi đọc về Alexander, Thành Cát Tư Hãn, Napoleon chúng ta cứ thèm muốn trong lịch sử của mình phải có 1 danh tướng có khả năng triển khai quân đội tới các vùng xa lắc xa lư, cướp bóc tài nguyên, bắt nô lệ, mang về phục vụ người Việt. Thà có một danh tướng ‘hiếu chiến’ như thế để mà tự hào còn hơn là có một list các danh tướng yêu hòa bình suốt ngày chỉ đợi ngọai xâm đến đô hộ nhà mình xong mới đi đánh. Chán chết. Ngay cả hình ảnh hàng ngàn cổ động viên gào thét Việt Nam Vô Địch ngay cả khi chúng ta vừa thua Nhật với tỷ số 1-4 cũng là một hình ảnh có tính kéo dài của mặc cảm em chã chỉ muốn sống êm đềm trong vòng tay của mẹ.

II. Ba ba tứ bất tử còn lại

1) Tản Viên Sơn Thánh (đời Hùng Vương 18).

Tượng trưng cho tinh thần chống lại thiên tai, chinh phục thiên nhiên. Nhưng điều bất ngờ ở đây là từ xa xưa, các đấng nam nhi đại trượng phu đã có chủ trương lấy con gái đại gia (hay còn gọi là đầu tư vào trym). Đến Sơn Tinh oai hùng thế mà cũng cạnh tranh khốc liệt để lấy con gái vua Hùng. Cuộc cạnh tranh khốc liệt này dẫn đến câu ca dao “Được thì làm con rể vua/ Thua thì làm giặc”. Phóng chiếu ngược lại ta có thể thấy vai trò yếu kém của người đàn ông khi tất cả những gì hiển hách nhất trong cuộc đời anh ta chỉ là lấy được con gái đại gia. Còn vị con rể hụt kia, có tài đến mấy, cuối cùng cũng chỉ thành một icon cho tính Gato vĩ đại của người Việt (Gato là thuật ngữ của tathy, có nghĩa là ghen ăn tức ở). Thành tích lớn nhất của anh ta là ‘ko ăn thì cố mà đạp đổ’ cho dù việc đạp đổ này đều bất thành.

Người đầu tiên tung hô Sơn Tinh chính là Thục Phán. Sơn Tinh là con rể Hùng Duệ Vương còn Thục Phán là cháu rể. Thục Phán dấy quân đánh vua Hùng nhưng bị vua Hùng sai con rể ra tỉn tý chết. Ngôi vua về sau nhường cho con rể nhưng Sơn Tinh vì ích nước nên thuyết phục vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán để thống nhất Âu Việt và Lạc Việt. Sau khi có ngôi vua, Thục Phán phong thánh cho Sơn Tinh. Điều này đã trở thành tiền lệ và đến nay vẫn còn hiệu ứng khi các vị kế nhiệm luôn thần thánh hóa những người đã đưa họ lên chiếc ghế quyền lực. Nhìn từ góc độ tâm lý thì đây là sự phản kháng có tính dây chuyền từ thế hệ này qua thế hệ khác việc đề cao các nhân không phải là nam giới đưa ai đó vào chiếc ghế quyền lực.

Câu chuyện Thục Phán An Dương Vương còn có một connection khá đặc biệt nữa là kẻ phế truất Thục Phán chính là con rể của ông. “Kẻ thù ngồi sau lưng vua” có lẽ đây là phóng chiếu hiếm hoi của tâm lý trỗi dậy chống lại mặc cảm Em Chã. Tuy nhiên sự chống lại này khá là nhỏ nhoi khi nó chỉ giới hạn ở việc đổ lỗi cho một người phụ nữ. Nhưng dù sao cái hay ở đây là đã le lói thấy ý thức coi tâm lý em chã và vòng tay phụ nữ chính là kẻ thù gây ra mất nước. Suốt về sau này, nhiều lần mất nước, cũng chẳng qua nhà cầm quyền toàn là Chã và Siêu Chã. Sự lệ thuộc và gian nan của nước Việt trong lịch sử cận đại và hiện đại đều là do chính quyền đã chối bỏ mẹ đẻ để sống trong vòng tay mẹ-đỡ-đầu là đủ các lọai chủ nghĩa từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa đế quốc.

Mặc cảm Em Chã do thời cuộc đã dịch chuyển (deplacement – 1 thuật ngữ của phân tâm học) qua Mặc cảm Em Chã Con Nuôi. Hay có thể gọi tắt là Mặc Cảm Nghĩa Chã. Dịch ra tiếng Tây là bị dịch chuyển từ Mother-Boy Complex qua GodMother-Boy Complex. Tuy nhiên như chúng ta thấy, hình như từ ngày chuyển qua mặc cảm Nghĩa Chã, chúng ta có điều kiện tiếp cận (tuy là thụ động) với các nền văn minh cao cấp hơn đến từ phương Tây.

2) Chử Đồng Tử (đời Hùng Vương thứ 3)

Tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân và sự sung túc. Chử Đồng Tử là con thuyền chài ngèo kiết. Chẳng qua được cái khỏe mạnh nên gái nhà đại gia theo cho nên thành người. Nhờ vốn liếng và quan hệ của bố vợ, chàng đi buôn hơi bị thành công. Điểm thú vị ở đây là sau khi có tất cả rồi, chàng đột nhiên có máu phiêu lưu. Tuy nhiên mới chỉ ra đến cửa biển Đồ Sơn chàng đã gặp pháp sư Ấn độ, thụ giáo xong là quay về liền. Có thể interprete câu chuyện này: chưa bao giờ dân tộc chúng ta đủ ăn đủ tiêu đủ phè phỡn để mưu cầu đến các khát khao cao hơn (tầng mấy của tháp Maslow ấy nhỉ) như đi du lịch, đi khám phá các nền văn minh khác và có một tôn giáo tín ngưỡng cho riêng mình. Ở đây mặc cảm em chã lại một lần nữa xuất hiện: Chử Đồng Tử là dân sông nước, đổi đời nhờ lấy con vua, nhưng khát khao nâng mấy cái needs của anh lên tầng trên trong tháp Maslow cũng chỉ giới hạn ở cửa biển. Dù chỉ là phóng chiếu của tâm lý vào truyền thuyết, mà sao ước mơ vẫn bé nhỏ quá. Bé nhỏ quá.

3) Bà chúa Liễu Hạnh (Hậu Lê)

Tượng trưng cho kinh doanh, văn học nghệ thụât, quân sự. Đây là một tứ bất tử đặc biệt nhất, thú vị nhất và quan trọng nhất. Khác với 3 cụ ở trên, cụ này là gái, lại trẻ hơn ba cụ kia nhiều thế kỷ. Ba cụ kia có từ thời vua Hùng. Cụ Liễu Hạnh có từ thời Hậu Lê. Tại sao lại thế?

Tại vì:

Tính đến giữa thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ hai thì chỉ duy nhất có hai cuộc khởi nghĩa lớn và thành công. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên là Hai Bà Trưng, cuộc thứ hai là Bà Triệu.

Ở thời Hai Bà Trưng người Việt vẫn chưa có họ. Họ của Hai Bà sau này có lẽ được các sử gia phong kiến tự đặt vào. Họ cũng gọi hai bà là Vua. Việc hai bà không có họ cũng cho thấy xã hội Việt lúc đó, tuy đã bị ảnh hưởng của bọn Tàu, nhưng vẫn là hình thái xã hội mẫu hệ. Và như hệ quả của nó, thủ lĩnh khởi nghĩa không phải là đàn ông. Lý do trả thù chồng là Thi Sách mà khởi nghĩa chẳng qua là sự phóng chiếu ngược của những sử gia đàn ông tự ti sau này. Họ viết lại lịch sử như thể Thi Sách và các thủ lĩnh hồi đó bị Mã Viện tàn sát hết nên power mới đến tay phụ nữ. Trong khi đó, nếu nhìn bằng con mắt của phân tâm học (phóng chiếu ngược) thì có thể hiểu quyền lực thực sự là của phụ nữ, việc các ông chồng bị sát hại chỉ là cái cớ để các bà dấy lên phong trào chống ngoại xâm.

Nhưng từ khi bọn Tàu nó đô hộ, đang từ xã hội thị tộc mẫu hệ chúng ta chuyển phắt một nhát qua xã hội phong kiến mà vai trò lãnh đạo là đàn ông. Không chỉ bị nô dịch mà chúng ta chưa đủ chín về tâm lý để thay đổi cho kịp thời cuộc. Chính vì thế mặc cảm em chã bị dồn nén xuống sâu nhất có thể. Mãi đến thời Hậu Lê nó mới có điều kiện trỗi dậy và từ đó chúng ta có Bà Chúa Liễu Hạnh (sinh năm 1557 ở Nam Định). Và cũng từ đó thờ Mẫu tự động trở thành một kênh tín ngưỡng cực kỳ quan trọng của dân tộc Việt. Quan trọng đến mức hình ảnh của bà chúa Liễu Hạnh cực kỳ đa dạng: vừa là con ngọc hoàng, thoắt cái thành người trần, vừa trêu ghẹo người đời, thoắt cái đã cầm quân đánh nhau với triều đình (phong kiến nam quyền), thoắt cái đang phù hộ đánh ngọai xâm lại quay qua trả thù Việt gian. Mặc dù cuộc đời của bà dừng lại khi mới chỉ 21 tuổi nhưng bà đã kịp làm vợ, làm mẹ, mà vẫn làm thần tiên.

Như vậy từ truyền thuyết Thánh Gióng thời Hùng Vương, tự nhiên đến thế kỷ 16 chúng ta đùng một phát có Bà Chúa Liễu Hạnh. Mặc cảm Em Chã dồn nén mấy ngàn năm ọach một cái phóng chiều vào một người phụ nữ trẻ. Người phụ nữ này làm được tất tần tật mọi thứ, chả thiếu thứ gì. Thế thì đàn ông cần gì làm nữa, chỉ lanh quanh đọc sách thánh hiền xong đi thi lấy dăm cái bằng PhD hay thi IMO là về nhà được mẹ xoa đầu khen giỏi, mua cho mấy bộ quần áo đẹp rồi kiếm vợ cho. Haha. Ngay cả sự bất công trong xã hội, Bà Chúa Liễu Hạnh cũng giải quyết láng bằng cách khen người tốt trừng phạt kẻ xấu.

Chính từ thời điểm này Mặc Cảm Chã chuyển dịch thành Mặc Cảm Siêu Chã (super-mother-boy complex) và gây ảnh hưởng sâu đậm đến tính cách của người Việt sau này. Mặc dù có thể list ra vô số các cái gọi là tính cách Việt nhưng nói chung đều gói gọn ở chỗ sống và phấn đấu chỉ vừa đủ để làm hài lòng Thánh Mẫu (SuperMother). Và một dân tộc như vậy có thể sẽ không bao giờ trở thành thành siêu dân tộc bởi vì không bao giờ có Siêu cá nhân (tại không có Super-Ego). Mọi sự sáng tạo vượt ngưỡng của mẹ đều không khả thi. Thậm chí còn không được phép, các cá nhân le lói một chút tài năng hơn người đều bị hãm hại (như Nguyễn Trãi, Vũ Như Tô) hoặc đa phần sẽ bị giới cai trị xoa đầu khen giỏi từ tấm bé khiến cho mãi mãi không thành người được (nhiều tiến sỹ Văn Miếu là như thế). Mọi khát vọng phiêu lưu đều chỉ dừng trong vòng tay của mẹ. Ngay cả sau này có Mẹ Đỡ Đầu hoành tráng thì cũng chỉ đi xa hơn được một tý. Nhưng một tý trong mấy trăm năm cận đại hóa ra rất nhiều so với vài ngàn năm trước đấy.

III. Ca dao, tục ngữ, thành ngữ

Mấy cái này thì quá nhiều, rất nhiều cái trong đó có thể mang ra phân tích. Tuy nhiên có hai câu sau thuộc loại độc đáo nhất và cũng đau lòng nhất:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng …” và câu “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

Bản chất của Mother-Boy là ích kỷ, hiếu thắng và hay ghen tỵ. Chúng rất hung hăng với người nhà và hèn nhát với người ngoài. Chính vì thế mà dân tộc có mặc cảm em chã không bao giờ có thể đoàn kết và hòa thụân được. Hai câu ca dao trên nó xuất phát từ tiềm thức thấu hiểu sự mất đoàn kết của dân tộc Việt. Đọc lên bề ngoài như một lời khuyên nhưng thực ra nó là phóng chiếu của nỗi đau mất đoàn kết. Các vùng miền (khác giống chung dàn) đấm đá nhau, cùng một tộc (gà cùng một mẹ) cũng cắn xé nhau. Từ đời này qua đời khác. Đặc biệt là khi chuyển sang mặc cảm god-mother-boy thì sự cắn xé nhau quá ư là tàn khốc. Bao nhiêu máu người Việt đổ xuống để tàn phá chính quê hương mình. Thật là nồi da xáo thịt. Tuy nhiên ở đây lại có một cái hay là sau một thời gian huynh đệ tương tàn, chúng ta có vẻ như đang thấm nỗi đau tàn sát, đang ngộ ra một điều rằng cái giá mà chúng ta (vô thức) phải trả đã quá đắt. Có lẽ đã đến lúc phế bỏ tất cả các god-mother để trở về với mẹ đẻ. Để mẹ Việt Nam có thể yên tâm mà nói rằng: “Tao nuôi chúng mày mấy ngàn năm, cạn hết cả tài nguyên mà chỉ thấy chúng mày cắn xé nhau làm vừa lòng ngoại bang mà đau lòng mẹ. Nay chúng mày tỉnh ra rồi, đoàn kết lại mà làm giàu đê. Ngày xưa lịch sử giao cho chúng mày hết oánh pháp lại đánh mỹ đánh tàu, chúng mày ngoan ngoãn nghe lời. Nay chúng mày ngoan mà nghe lời mẹ, quên mấy con mụ god-mother lịch lãm mà thâm độc đi, đoàn kết lại mà làm giàu, có khìn mà phụng dưỡng mẹ già. Hichic.”

Kết luận (tạm):

Mặc cảm Em Chã (Mother-Boy Complex): từ thời Vua Hùng đến Hai Bà Trưng

Mặc cảm Em Chã bị dồn nén (Repressed Mother-Boy Complex): Hai Bà Trưng đến nhà Lê. (Repression là khái niệm dồn nén ẩn ức trong phân tâm học).

Mặc cảm Siêu Chã (Super-Mother-Boy Complex): Từ Hậu Lê đến thời Quang Trung. Chính ra đây là thời kỳ khí thế nhất của lịch sử VN. Bắt đầu bằng việc vua Lê Thánh Tông (thế kỷ 15) là vị vua – danh tướng đầu tiên mang quân đi chinh phạt về phía nam. Ông cũng là vị vua- danh tướng hiếm hoi của chúng ta thạo thủy quân và dám mang quân vượt biển đi chinh phạt. Ở entry này cũng đã nói đến việc chinh phạt của Lê Thánh Tông. Có khả năng Lê Thánh Tông thoát được mặc cảm Siêu Chã là do ông may mắn thoát khỏi cuộc chém giết giữa các hoàng tử cùng cha khác mẹ và may mắn được lên ngôi vua mặc dù là con thứ (mẹ ông cũng chỉ là thứ phi). Ông lên ngôi vua lại đúng lúc chín (18 tuổi).

Mặc cảm Nghĩa Chã (GodMother-Boy Complex): bắt đầu từ Gia Long. Thời kỳ Gia Long là thời kỳ mở rộng bờ cõi nhiều nhất (entry này cũng có nói đến). Nhưng bờ cõi mở rộng được chủ yếu là bằng các biện pháp phi quân sự. Nhưng quái lạ nhất là ông vua Gia Long mưu lược thế mà cuối cùng triều Nguyễn lại có vẻ như là triều đại chã nhất trong lịch sử VN. Vua quan suốt ngày làm thơ thẩn ba lăng nhăng, gái mú om xòm, lăng tẩm ầm ỉ. Chả làm được cái quái gì về quân sự, hành chính và kinh tế. Đã thế lại còn dời đô về một chỗ rất chán là Huế nữa. Rất là khó hiểu. Có lẽ lý do duy nhất chính là cái sự “uốn éo” của Gia Long lúc thì trốn sức mạnh của kẻ thù, lúc lại mượn tay ngoại bang để chén lại các thế lực trong nước đã dẫn đến một kết quả như thế.

Kết luận chính thức:

“Nói như rồng leo làm như mèo mửa”. Tức là chỉ giỏi bốc phét, còn làm thì như bốc kít. Chính là bản sắc cơ bản của chúng ta. Entry này và tác giả của nó chính là một ví dụ điển hình. Há Há Há.

Nói chung chúng ta phải cố gắng để upgrade lên bước tiếp theo là “Nói như rồng leo làm như rồng hột vịt”.

Wednesday, July 22, 2020

9 bài học cuộc sống

9 bài học về tiền bạc cha nhắn nhủ con gái

MỸChuyên gia tài chính Morgan Housel cho rằng, không phải mọi thành công đều là kết quả của những công việc khó khăn, cũng như nghèo đói không phải là kết quả của sự lười biếng

"Công việc hiện tại của con chủ yếu là ăn và ngủ. Nhưng một ngày nào đó, con sẽ cần đến những lời khuyên về tiền bạc và cuộc sống. Là một người cha đã dành phần lớn sự nghiệp của mình để nghiên cứu về tiền bạc, kinh doanh, cha có những điều sau đây muốn nói với con", Morgan Housel, chuyên gia tài chính và cựu phóng viên của tờ Wall Street Journal viết trong lá thư gửi cho con gái chưa đầy một tuổi của mình.

Không có số tiền nào có thể bù đắp cho sự thiếu hụt tính cách, sự thiếu trung thực, thiếu đồng cảm đối với mọi người. Ảnh minh họa: CNBC.

Không có số tiền nào có thể bù đắp cho sự thiếu hụt tính cách, sự thiếu trung thực, thiếu đồng cảm đối với mọi người. Ảnh minh họa: CNBC.

Đừng đánh giá thấp vai trò của cơ hội trong cuộc sống

Không thể phủ nhận sự giàu có hay nghèo khổ là do chính những lựa chọn mà chúng ta đưa ra, nhưng việc đánh giá thấp vai trò của các cơ hội trong cuộc sống còn dễ xảy ra hơn.

Các gia đình, đất nước, thế hệ mà chúng ta sinh ra, cũng như những người mà chúng ta gặp trên đường, tất cả đều đóng vai trò trong những kết quả mà chúng ta đạt được. Thế nên, mặc dù tin vào những giá trị và phần thưởng cho công việc mà mình đã làm, điều quan trọng cần hiểu là không phải tất cả thành công đều là kết quả của những công việc khó khăn, cũng như nghèo đói không phải là kết quả của sự lười biếng. Hãy ghi nhớ điều này khi hình thành quan điểm, đánh giá về người khác, bao gồm cả chính bản thân mình.

Lợi tức cao nhất là khả năng kiểm soát thời gian

Có thể làm điều mà bản thân mong muốn, ở bất cứ nơi nào, trong thời điểm nào, với bất cứ người nào mà mình muốn... sẽ đem lại niềm hạnh phúc lâu dài mà không thứ vật chất nào có thể đem lại.

Sự hồi hộp của việc đạt được thứ mình thích sẽ nhanh chóng biến mất. Nhưng có một công việc linh hoạt, với thời gian đi lại ngắn là bức thiết. Có đủ tiền tiết kiệm để chi tiêu lúc khó khăn là cần thiết. Có thể nghỉ hưu bất cứ lúc nào mình thích cũng là thiết thực. Do đó, đạt được sự độc lập là mục tiêu cuối cùng của chúng ta trong cuộc sống. Độc lập không phải là một cuộc chơi "được ăn cả, ngã về không", bởi vì một đồng tiền mà con tiết kiệm cũng tương đương với việc con sở hữu một lát cắt trong tương lai, thay vì để người khác quản lý và phải dựa theo các ưu tiên của họ.

Đừng dựa vào việc được nuông chiều

Chẳng ai có thể hiểu được giá trị của đồng tiền nếu không đổ mồ hôi công sức cho nó. Thế nên, việc hiểu rằng con không thể có được mọi thứ con muốn là cách duy nhất để hiểu được giữa nhu cầu và mong muốn. Chính điều này sẽ dạy cho con về cách lập ngân sách, tiết kiệm, định giá những gì mà mình có.

Biết cách tiết kiệm mà không làm khổ chính mình là một kỹ năng sống thiết yếu và sẽ có ích trong suốt những thăng trầm mà con không thể nào tránh khỏi trong cuộc sống.

Thành công không phải lúc nào cũng đến từ những việc to tát

Napoleon từng định nghĩa về thiên tài là người có thể làm những điều bình thường, trong khi mọi người xung quanh trở nên mất trí. Việc quản lý tiền cũng như vậy. Con không cần phải làm những điều phi thường để có thể đạt một kết quả tốt. Đôi khi, thứ con cần làm tốt chính là không liên tục làm hỏng việc, trong một thời gian dài. Hãy tránh những sai lầm to lớn, lớn nhất là vùi mình vào nợ nần, điều đó quan trọng hơn bất cứ chiến lược tài chính nào.

Sống dưới mức thu nhập của mình

Sống dưới mức thu nhập của mình chính là một trong những đòn bẩy tài chính có sức mạnh nhất, bởi vì con sẽ có nhiều quyền kiểm soát hơn với những thứ như thu nhập, lợi tức đầu tư...

Người kiếm được 50.000 USD mỗi năm, nhưng chỉ cần 40.000 USD để hạnh phúc, giàu có thì sẽ tốt hơn nhiều so với người kiếm được 150.000 USD, nhưng cần đến 151.000 USD để hạnh phúc. Nhà đầu tư kiếm lợi nhuận 5% nhưng có chi phí thấp sẽ tốt hơn so với nhà đầu tư kiếm được 7% một năm, nhưng lại có chi phí cao hơn.

Đừng ngại thay đổi suy nghĩ theo thời gian

Hầu như chẳng ai sống cuộc sống mà họ đã nghĩ đến năm 18 tuổi, vì thế nếu một ngày con thay đổi quyết định trong việc chọn chuyên ngành của mình thì đó cũng chẳng phải ngày tận thế. Con có thể thừa nhận rằng các giá trị, mục tiêu của mình đã thay đổi. Việc tha thứ cho bản thân vì đã thay đổi suy nghĩ là một siêu năng lực, đặc biệt khi con còn trẻ.

Mọi thứ đều có giá của nó

Cái giá của sự nghiệp bận rộn là có ít thời gian cho bạn bè, gia đình. Cái giá của đứa trẻ hư hỏng chính là một cuộc sống được bảo bọc, che chở. Tất cả mọi thứ đều có giá trị của nó, và hầu hết các giá trị đó đều được ẩn. Đôi khi chúng đáng để ta trả tiền, nhưng đừng bao giờ con bỏ qua giá trị thực của nó.

Khi con chấp nhận điều này, con sẽ bắt đầu xem xét những thứ như thời gian, các mối quan hệ, quyền tự chủ và sáng tạo như những loại tiền tệ, có giá trị như tiền mặt.

Tiền không phải là thước đo thành công cao nhất

Tỷ phú Warren Buffett nói: "Thành công thực sự trong đời sống là số người mà bạn muốn họ yêu bạn đích thực yêu bạn".

Tình yêu đó đến từ cách bạn đối xử với mọi người, chứ không phải số tiền mà bạn có. Tiền sẽ không đem đến thứ mà bạn lẫn người khác muốn nhất. Không có số tiền nào có thể bù đắp cho sự thiếu hụt tính cách, sự thiếu trung thực, thiếu đồng cảm đối với mọi người.

Đừng mù quáng tin vào tất cả những lời khuyên

Tất cả những bài học kể trên, và cả bài học cuối cùng này, là những điều mà hầu hết chúng ta ngộ ra quá muộn. Nhưng thế giới của con sẽ khác cha mẹ, cũng như thế giới của bố mẹ khác ông bà. Không ai giống ai, không ai có tất cả các câu trả lời đúng. Thế nên, đừng bao giờ chấp nhận lời khuyên của bất cứ ai mà không bối cảnh hóa nó với các giá trị, mục tiêu và hoàn cảnh mà con sống.

Thùy Linh (Theo CNBC)


https://vnexpress.net/9-bai-hoc-ve-tien-bac-cha-nhan-nhu-con-gai-4134112.html

Friday, June 26, 2020

Mẹ Việt ở Tây chịu tiếng 'ác' để dạy 5 con tự lập

Mẹ Việt ở Tây chịu tiếng 'ác' để dạy 5 con tự lập

 

Thời còn là vợ chồng son, tôi và chồng thường vẽ ra nhiều bức tranh đẹp và ý tưởng hay về việc sau này sẽ nuôi dạy con ra sao, nào là không bao giờ dùng hình phạt, không la mắng con... Nhưng đến khi 5 con lần lượt ra đời, kế hoạch và các ý tưởng đó của chúng tôi hình như bị đảo lộn, hay nói chính xác hơn là không thể áp dụng vì không hợp lý.

 

Vợ chồng tôi đều sống ở nước ngoài từ nhỏ nên ảnh hưởng cách sống phương Tây khá nhiều. Thế nhưng, khi có con và có nhiều cơ hội tiếp xúc với các phụ huynh, tôi thấy đa số bà mẹ Á châu đều có cách dạy theo kiểu Việt Nam truyền thống, tức là không để con tự do hoàn toàn mà luôn có sự nghiêm khắc nhất định để con biết lễ phép, tuân theo các quy định. Chúng tôi đã quyết định dạy con theo kiểu "đa văn hóa" - kết hợp cả Tây - Ta và phải áp dụng tùy biến theo tính cách của từng bé. 

 

Với tất cả năm con, từ lúc bắt đầu bước sang tuổi thứ tư, tôi đã tập cho bé cách sống tự lập theo kiểu có chơi thì có dọn, muốn thơm thì phải sạch và buồn ngủ tự đi ngủ... Tôi chưa bao giờ ôm con dỗ dành khi bé đòi quà hay nhõng nhẽo. Chắc bạn sẽ lên án, sao tôi "mẹ ghẻ" vậy? Nhưng xin thưa, tôi không muốn bé nhà mình có thói quen muốn gì được nấy. Nếu chúng ta thương, chiều con không đúng lúc, vô tình sẽ làm con hư từ tình thương của mình. 

 

Bữa cơm, các bé lớn sẽ là người giúp tôi trải khăn bàn, sắp xếp chén đĩa, bé nhỡ thì rót nước và ngồi vào ghế của mình. Nói thật tôi chưa bao giờ đút cơm từng muỗng sau khi con bước qua sinh nhật lần thứ ba.

 

Tôi là người sống khá nguyên tắc, vì thế tôi luôn hướng con tôi có thói quen lập thời khóa biểu cho chính mình. Các bé nhà tôi "giống như sống trong quân đội", cứ 6h30 sáng là các con tự động rời khỏi giường, sắp xếp mền, gối gọn gàng trước khi ra khỏi phòng. Để hình thành nếp này, tôi dành một tuần để gọi con lớn dậy đúng giờ, sau đó, tôi hướng dẫn con dùng đồng hồ báo thức và cháu sẽ tự đặt chuông. Các bé lớn sẽ chỉ bảo cho bé nhỏ và các con luôn làm đồng loạt, học theo nhau. Sáng sáng, nhà tôi thường rất nhộn nhịp, 6 rưỡi là bọn trẻ như chim vỡ tổ ùa dậy, sau đó làm vệ sinh cá nhân, thay quần áo đi học, rồi các con tự xem lại bài vở, uống sữa, ăn sáng trước khi được mẹ làm tài xế đưa tới trường.

 

Là mẹ, có bao nhiêu tình thương tôi đều dành cho con, thế nhưng đôi khi, tôi cố giấu tình thương ấy trong lòng để làm người mẹ cứng rắn. Là con nít, đâu có bé nào là không đôi lần ngỗ nghịch, có khi còn khiến mình ức chế vì những lần hư, nghịch. Để ngăn chặn và giúp bé biết kiểm soát, tôi cũng dùng hình phạt với con.

 

Các hình thức như đánh đòn, cấm coi TV hay quỳ gối, tôi đều áp dụng. Đánh đòn vào mông không phải là hình phạt bạo lực như nhiều bạn nghĩ. Và bạn biết không, nhờ tôi dạy con theo cách dùng roi khẽ quất vào mông của ông bà ta từng dạy mà các con ít khi tái phạm lỗi. Cách này dĩ nhiên tôi chỉ áp dụng khi bé 4-10 tuổi.

Thực tế, tôi cũng mới phải dùng đến roi hai lần, đều phạt tội con nói dối. Gần đây nhất tôi dùng cách này với bé thứ tư, 8 tuổi. Lần đó, con mời bạn tới nhà chơi, rồi lấy đồ chơi ra khoe và cũng lấy luôn cái bình thủy tinh mẹ để trên kệ xuống chơi. Khi chơi chán, bé bưng đi cất thì vô tình làm rơi, vỡ. Bà nội bé thấy thế thì giúp cháu dọn dẹp. Chuyện sẽ không có gì nếu bé nhận lỗi khi mẹ về và hỏi tại sao. Thế nhưng, con hết đổ thừa cho bạn này đến bạn kia và cuối cùng khi bà nội chỉ ra cái sai của mình, bé mới chịu nhận. Để con bỏ tật xấu này, tôi quyết định phạt 2 roi và nói rõ lý do: "nói dối là điều không bao giờ được chấp nhận". Lúc sau, thấy mẹ ngồi một mình, con đã tới khoanh tay xin lỗi và từ đó không lặp lại cái sai này nữa. 

 

Tuy nhiên, mỗi cách dạy hay cách phạt sẽ có hiệu quả khác nhau với từng bé. Việc dạy con sẽ rất nhàn, khi ta biết rõ ràng tính nết của từng đứa. Chẳng hạn, con lớn nhất của tôi sống thiên về tình cảm, thích nhẹ nhàng vì thế mỗi khi con sai, tôi chỉ cần hai mẹ con ngồi nói chuyện với nhau, phân tích cho con thấy lẽ ra con không nên làm thế... tức thì bé hiểu ra ngay vấn đề. Nhưng với bé có tính ương ngạnh thì nhỏ nhẹ không phải là biện pháp hữu ích và chúng tôi phải dùng cách mạnh hơn. 

Nhìn con lớn tôi mừng, nhìn con ngoan tôi vui và... cái lo âu cũng theo đó mà tăng. Khi các con lớn là các con đã hiểu được việc gì nên và không nên làm. Thế nhưng để bé ý thức và hiểu được những điều ấy, vợ chồng tôi bắt đầu bỏ dần thói quen gọi là "hưởng thụ" để trò chuyện cùng con. Tối nào tôi cũng dành 30 phút để lắng nghe con tâm sự và trò chuyện với con về công việc, vui buồn của bản thân. Vợ chồng tôi hiểu rằng, chỉ khi bố mẹ mở lòng với con, con mới tin tưởng mà nói tâm sự của mình.Chúng tôi chưa bao giờ lấy quyền cha mẹ để ép các con tuân theo.

 

Sống đâu quen đó là câu cửa miệng của người Việt chúng ta, thế nhưng vợ chồng tôi sống nước ngoài lúc kẻ lên 2 người lên 10 mà không quen kiểu sống cho con tha hồ tham gia tiệc cùng của các gia đình Tây phương.

 

Ở nhà con ngoan, ra ngoài học bạn đây là điều các ông bố bà mẹ nên biết. Vì thế khi đồng ý cho con cùng các bạn xem phim hay tới dự sinh nhật bạn, tôi hoặc chồng đều tạm ngưng việc để đưa con đi và ngồi hàng giờ đón con về.

Và bạn thấy đó, với 5 đứa con, tôi nuôi và dạy không quá mệt. Đơn giản vì tôi và chồng cùng thống nhất kiểu dạy con Ta - Tây kết hợp như thế.

Lâm Anh Đào

 


Thursday, June 18, 2020

Người Trung Quốc chi phối kinh tế vùng Amazon thế nào

Nền kinh tế quy mô lớn

Nhu cầu đậu tương, thịt bò biến Trung Quốc thành thương lái, người mua, ngân hàng và cả công ty xây dựng hạ tầng nông nghiệp tại khu vực Amazon.
Khu vực Amazon (Brazil) đã được người Mỹ để mắt đến cách đây gần 100 năm. Cuối thập niên 20, nhà sáng lập Ford Motor Henry Ford cần một nguồn cao su rẻ và đáng tin cậy cho hàng triệu lốp xe được sản xuất gần Detroit (Mỹ). Và Nam Mỹ là địa điểm đầy hứa hẹn.
Cùng các lao động địa phương, người Mỹ do Ford phái đến khai khẩn đất dọc theo một nhánh của sông Amazon, lập ra một khu vực có tên Fordlândia, với kỳ vọng quy tụ 10.000 công nhân. Tuy nhiên, cây cao su không phát triển được ở  Fordlândia. Địa điểm hẻo lánh trong rừng Amazon khiến việc xuất khẩu sang Mỹ cũng khó khăn. Cùng việc phải đối mặt với bệnh tật, thú hoang, người Mỹ quyết định rút khỏi đây năm 1934.
Gần một thế kỷ sau, lưu vực sông Amazon lại trở thành tâm điểm. Lần này, sản phẩm được ưa chuộng là đậu tương và thịt bò, chủ yếu phục vụ khách hàng Trung Quốc. Bắc Kinh hỗ trợ các nhà thám hiểm Brazil mở mang Amazon để có đất canh tác và chăn thả gia súc. Họ thậm chí muốn giúp xây một tuyến đường sắt để vận chuyển hai mặt hàng này khỏi nông trường thuận lợi hơn.
Một nông trường tại lưu vực sông Amazon địa phận Brazil. Ảnh: SCMP
Một nông trường tại lưu vực sông Amazon thuộc địa phận Brazil. Ảnh: SCMP
Trung Quốc sản xuất và tiêu thụ một nửa thịt lợn thế giới. Lợn được nuôi bằng đậu tương nhập khẩu từ Mỹ và Brazil. Tuy nhiên, cuộc chiến thương mại với Mỹ gần 2 năm qua đã đẩy họ đến gần Brazil hơn. Trung Quốc mua tới 80% đậu tương xuất khẩu của quốc gia Nam Mỹ này.
Thịt bò Brazil cũng được Bắc Kinh ưa chuộng. Tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển tại đây khiến nhu cầu thịt bò cũng tăng 30% so với một thập kỷ trước. Dịch tả lợn châu Phi 2018 tàn phá đàn trong nước cũng khiến nhiều người chuyển sang ăn thịt bò. Cũng như các hoạt động kinh tế khác trên thế giới, Covid-19 đe dọa gây gián đoạn xu hướng này. Tuy nhiên, đến nay, xuất khẩu đậu tương của Brazil sang Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm ngoái.
Phần lớn đậu tương và thịt bò Brazil sản xuất ở các bang Mato Grosso và Pará của khu vực Amazon. Là đối tác thương mại hàng đầu, tương lai của Amazon phụ thuộc vào Trung Quốc xa xôi, và sự mơ hồ của nền chính trị Brazil. Theo SCMP, chính phủ liên bang, các thống đốc địa phương cũng như nông dân đều đang ưu tiên lợi ích kinh tế từ khu rừng hơn.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rất được Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro coi trọng. Nhà lãnh đạo này có quan điểm xem Amazon là một động lực kinh tế cho đất nước, một phần của vận mệnh của quốc gia. "Tôi đang hoàn thành một sứ mệnh từ Chúa", ông Bolsonaro nói.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp gỡ Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro tháng 11/2019. Ảnh: AFP
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro tháng 11/2019. Ảnh: AFP
Nhiều công ty nông nghiệp Trung Quốc là doanh nghiệp nhà nước và đậu tương là một thành phần của chiến lược an ninh lương thực quốc gia. Điều đó có nghĩa là những "đại gia" như Tập đoàn Dầu khí và Thực phẩm Trung Quốc (Cofco) đang có mặt tại Brazil cũng phải hoạt động phù hợp với các mục tiêu của chính phủ.
Kế hoạch 5 năm gần đây nhất của Trung Quốc nhấn mạnh sự cần thiết phải đạt được mức độ tự cung cấp cơ bản. Nhưng họ không thể làm như vậy với đậu tương vì không đủ đất và nước để thâm canh. Do đó, để đảm bảo nguồn cung ổn định, họ phải làm theo cách mà Mỹ không thể, đó là đến Brazil với tư cách thương nhân, người cho vay và người xây dựng, ngoài vai trò người mua.
Thành phố Sinop, nơi sinh sống của 140.000 người ở Mato Grosso, phía nam Novo Progresso, được xây dựng dựa trên sự giàu có của nông dân trồng đậu tương. Đây là nơi mà các công ty xây dựng Trung Quốc đến, như các doanh nghiệp quốc doanh China Railway Engineering, Shanghai Pengxin Group và China Communications Construction.
Họ bày tỏ sự quan tâm đến việc đấu thầu dự án đường sắt trị giá 3,1 tỷ USD để vận chuyển nông sản, có tên Ferrogrão. Dù bất kỳ ai trong số họ giành chiến thắng, dự án này cũng sẽ trở thành một phần của sáng kiến "Vành đai và Con đường".
Các ngân hàng Trung Quốc cũng có thể tham gia hỗ trợ tài chính cho dự án. Các công ty xây dựng nhà nước thường làm việc cùng với các ngân hàng nhà nước. Chính phủ Brazil cho biết họ cũng đã bảo đảm cấp vốn cho Ferrogrão mà không tiết lộ chi tiết. Dù vậy, năm ngoái, Bắc Kinh đã cam kết đầu tư 100 tỷ USD vào lĩnh vực nông nghiệp Brazil.
Trong nhiều năm, nông dân Mỹ đã cung cấp một lượng đậu tương ổn định cho Trung Quốc. Cơ sở hạ tầng phát triển giúp họ trở thành nhà cung cấp được ưa chuộng hơn so với Brazil. Nông dân Mỹ cũng được hưởng lợi từ trợ cấp của chính phủ. Do vậy, dù có giống đậu tương giàu protein hơn các đối thủ Bắc Mỹ, Brazil từng phải cạnh tranh rất vất vả.
Khi phát triển việc kinh doanh trên khắp Amazon, các doanh nghiệp lại gặp khó vì đường đất lầy lội vào mùa mưa. Vì vậy, họ nghĩ đến việc xây dựng Ferrogrão - một tuyến đường sắt xuyên rừng rậm. Bất chấp Covid-19, Bộ trưởng cơ sở hạ tầng Brazil Tarcísio Gomes de Freitas cho biết vẫn duy trì quá trình đấu thầu dự án Ferrogrão, bắt đầu vào đầu năm tới.
"Đây là một dự án hoàn toàn bền vững, giúp giảm chi phí vận chuyển hàng hóa", ông nói,"Đường sắt phát ra khoảng một phần ba lượng khí thải so với vận tải đường bộ". Ông cũng cam kết không một cây nào bị đốn trong quá trình này.
Trước khi giành chiến thắng, Tổng thống Bolsonaro tranh cử bằng quan điểm bài Trung Quốc, cảnh báo rằng nước này đang "mua" Brazil. Nhưng cũng như rất nhiều chính trị gia, nội dung hùng biện khi tranh cử không giống như thái độ khi đắc cử.
Ông đối mặt với thực tế rằng Trung Quốc và Brazil có mối quan hệ cộng sinh. Cuối cùng, dưới thời Bolsonaro, quan hệ hai nước chỉ càng phát triển. Ngoài đậu tương và thịt bò, hai nước có thể tiếp tục hợp tác về hàng không, khi thỏa thuận giữa hãng sản xuất máy bay Brazil Embraer với Boeing đổ vỡ.
Đường vào thị trấn Novo Progresso. Ảnh: Heriberto Araujo
Đường vào thị trấn Novo Progresso. Ảnh: Heriberto Araujo
Hiện tại, dù áp dụng "ngoại giao chiến lang" với nhiều nước, Trung Quốc vẫn rất thân thiện với Brazil. Nước này cung cấp khẩu trang và máy thở cho các bang tại đây. SCMP cũng nhận định dù chính trường Brazil có sự thay đổi rất lớn so với hiện tại, cuối cùng họ vẫn cần Trung Quốc mua hàng hóa của mình.
Người có tầm nhìn xa như Henry Ford hóa ra đã để mắt đến Amazon quá sớm. Ông thậm chí đã thử nghiệm với đậu tương, dành tiền bạc và thời gian tại các phòng thí nghiệm nghiên cứu của mình để nghiên cứu về chúng. Có thời điểm, ông từng mặc một bộ đồ bằng vải làm từ đậu tương để kiểm tra tính năng của nó. Nhưng đó là khi ông rời Fordlândia. Nếu ông biết đậu tương phát triển tốt như thế nào ở Amazon, mọi chuyện có thể đã rất khác.